Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Tổ quốc. Sự ra đời, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam gắn liền với tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta. Người không chỉ sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Quân đội, mà còn để lại cho Quân đội một hệ giá trị tư tưởng mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, có giá trị bền vững trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong bối cảnh tình hình hiện nay.

Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Lâm Đồng vận chuyển phương tiện đến giúp dân khắc phục hậu quả do mưa, lũ gây ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và định hướng bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Ngay từ khi đặt vấn đề giành độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vai trò quyết định của lực lượng vũ trang cách mạng. Người khẳng định: Muốn giành và giữ độc lập, nhất thiết phải có quân đội của Nhân dân, do Đảng lãnh đạo và tuyệt đối trung thành với mục tiêu cách mạng. Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22/12/1944 không chỉ là một sự kiện quân sự, mà còn là dấu mốc chính trị quan trọng, khẳng định đường lối xây dựng quân đội kiểu mới của Đảng và Bác Hồ.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam trước hết là đội quân chính trị, sau đó mới là đội quân chiến đấu. Người luôn nhấn mạnh: quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; phải lấy mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội làm lý tưởng chiến đấu. Chính bản chất chính trị đó đã làm nên sức mạnh đặc biệt của Quân đội Việt Nam, sức mạnh không chỉ đến từ vũ khí, mà từ lòng dân, từ chính nghĩa và niềm tin tất thắng.
Một trong những đóng góp lý luận nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp quân sự là tư tưởng xây dựng quân đội gắn bó máu thịt với Nhân dân. Người khẳng định: “Quân đội ta là đội quân của Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu”. Quan điểm này không chỉ định hình mối quan hệ Quân - Dân, mà còn trở thành nguyên tắc chiến lược của chiến tranh Nhân dân Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chính sự gắn bó chặt chẽ với Nhân dân đã tạo nên hậu phương vững chắc, tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, khiến một dân tộc nhỏ bé có thể đánh bại những thế lực xâm lược hùng mạnh. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết tinh sinh động của tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân và xây dựng quân đội từ Nhân dân, vì Nhân dân.
Bác Hồ đặc biệt coi trọng xây dựng đạo đức cách mạng trong Quân đội. Người cho rằng, người quân nhân cách mạng không chỉ giỏi chiến đấu mà còn phải có đạo đức trong sáng, kỷ luật nghiêm minh, tinh thần đoàn kết và lòng nhân ái. Những lời dạy của Bác như: “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”, hay “Đối với mình phải nghiêm, đối với đồng chí phải khoan dung, đối với Nhân dân phải kính trọng” đã trở thành chuẩn mực đạo đức của người lính Cụ Hồ.
Trong mọi hoàn cảnh, dù chiến tranh ác liệt hay hoà bình xây dựng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được Nhân dân tin yêu, trân trọng. Đó là kết quả trực tiếp của việc thấm nhuần và thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong xây dựng Quân đội.
Giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Quân đội hiện đại
Bước vào thời kỳ mới, đất nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng các nguy cơ xung đột, tranh chấp chủ quyền, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chiến tranh công nghệ cao ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp tục giữ vai trò định hướng chiến lược.
Một mặt, Quân đội phải không ngừng xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có khả năng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Mặt khác, Quân đội phải tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng chính trị, lực lượng lao động đặc biệt, tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo đảm an sinh xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Quân đội Nhân dân Việt Nam đang đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi ngày càng cao về bản lĩnh chính trị, trình độ khoa học - công nghệ và năng lực tổ chức thực tiễn.
Trước hết, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia. Việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
Thứ hai, Quân đội ngày càng thể hiện rõ vai trò trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và các thách thức phi truyền thống. Hình ảnh người lính nơi tuyến đầu chống dịch, cứu dân trong bão lũ, giúp dân ổn định cuộc sống tiếp tục khẳng định sâu sắc bản chất “vì Nhân dân phục vụ” của Quân đội ta.
Thứ ba, trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động hội nhập, tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc, mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ, hoà bình và hữu nghị. Đây là bước phát triển phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân đội Nhân dân Việt Nam là di sản vô giá của cách mạng Việt Nam. Người đã để lại cho Quân đội không chỉ một mô hình tổ chức, mà còn một hệ giá trị tư tưởng, đạo đức và phương pháp hành động có ý nghĩa lâu dài. Trong mọi hoàn cảnh, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn kiên định mục tiêu lý tưởng, trung thành với Đảng, gắn bó với Nhân dân và sẵn sàng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Trong tình hình hiện nay, việc tiếp tục học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam là yêu cầu khách quan, là nhân tố quyết định để Quân đội ta mãi xứng đáng là lực lượng chính trị trung thành, lực lượng chiến đấu tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, góp phần giữ vững hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hồng Vĩnh