Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập tuy chỉ kéo dài gần 16 năm, trong đó gần hai năm đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư của Đảng, song đồng chí đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều phong ba, bão táp, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng từng bước phát triển và tiến tới những thắng lợi quan trọng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tại khu mộ Tổng Bí thư Hà Huy Tập. Ảnh. Báo Hà Tĩnh.
Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa (nay thuộc xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh). Thân phụ của đồng chí là ông Hà Huy Tương, đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, ở quê dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Lộc, một người nông dân cần cù, chất phác, suốt đời gắn bó với ruộng đồng.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Hà Huy Tập sớm được hun đúc những phẩm chất cứng cỏi, cương trực, thanh bạch của lớp chí sĩ đương thời, hình thành nhân cách và ý chí sống vì dân, vì nước.
Từ năm 1910 đến năm 1919, đồng chí theo học bậc tiểu học tại tỉnh lỵ Hà Tĩnh. Nhờ học tập xuất sắc, thi đỗ thủ khoa, đồng chí được đặc cách vào học tại Trường Quốc học Huế. Năm 1923, Hà Huy Tập tốt nghiệp với kết quả loại ưu.
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện tiếp tục học lên đại học, đồng chí xin đi dạy học và được bổ nhiệm giảng dạy tại Trường Tiểu học Pháp - Việt ở thị trấn Nha Trang. Cuối năm 1926, Hà Huy Tập gia nhập Hội Phục Việt (sau đổi tên thành Hội Hưng Nam) tại Vinh - một tổ chức yêu nước hoạt động cách mạng. Tại đây, đồng chí tích cực tuyên truyền, giác ngộ quần chúng và xây dựng cơ sở cho tổ chức.
Tháng 3/1927, đồng chí rời Vinh vào Sài Gòn tiếp tục hoạt động cách mạng. Cuối năm 1928, để tránh sự truy lùng gắt gao của thực dân Pháp, Hà Huy Tập sang Trung Quốc và liên lạc với các tổ chức cách mạng Việt Nam ở nước ngoài.
Từ năm 1929 đến năm 1932, đồng chí học tập tại Trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô. Sau khi hoàn thành chương trình học, giữa năm 1933 tại Trung Quốc, Hà Huy Tập cùng các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và một số đồng chí khác thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng nhằm khôi phục hệ thống tổ chức Đảng trong nước sau khi bị địch khủng bố dữ dội sau cao trào cách mạng 1930 - 1931.
Từ ngày 27 - 31/3/1935, đồng chí tham dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức tại Ma Cao (Trung Quốc). Sau Đại hội, đồng chí cùng Ban Chấp hành Trung ương triển khai thực hiện các nghị quyết quan trọng nhằm củng cố tổ chức và phát triển phong trào cách mạng.
Năm 1936, đồng chí về nước hoạt động và triệu tập Hội nghị cán bộ để bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Tại hội nghị này, đồng chí được bầu giữ chức Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 9/1937, tại Hóc Môn (Gia Định), đồng chí chủ trì Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương. Hội nghị đánh dấu bước phát triển quan trọng của Đảng, từ chỗ không còn cơ quan Trung ương đã từng bước khôi phục được Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Trung ương.
Ngày 01/5/1938, trong một chuyến công tác, do bị nội phản chỉ điểm, Hà Huy Tập bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn và sau đó bị quản thúc tại quê nhà. Ngày 30/4/1940, đồng chí bị bắt lần thứ hai và bị kết án 5 năm tù giam.
Ngày 25/3/1941, tòa án quân sự đặc biệt tại Sài Gòn đổi bản án thành tử hình với cáo buộc “chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ”. Ngày 28/8/1941, đồng chí bị thực dân Pháp xử bắn tại Ngã tư Giếng Nước, Hóc Môn (Gia Định), cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần và Phan Đăng Lưu.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập diễn ra trong khoảng 16 năm, trong đó gần hai năm giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng (từ tháng 10/1936 đến tháng 3/1938). Trong những năm tháng phong trào cách mạng gặp muôn vàn khó khăn, đồng chí đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo phong trào vượt qua thử thách, từng bước khôi phục và củng cố tổ chức Đảng.
Đặc biệt, sau cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào cách mạng bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, nhiều tổ chức Đảng bị tan rã, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt, bị giết hoặc phải hoạt động ở nước ngoài. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Hà Huy Tập cùng các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng đã kiên định lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo Cương lĩnh năm 1930 của Đảng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; tích cực khôi phục hệ thống tổ chức Đảng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam; chuẩn bị văn kiện và tổ chức thành công Đại hội lần thứ nhất của Đảng; củng cố lại Ban Chấp hành Trung ương, mở ra bước phát triển mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Không chỉ là nhà lãnh đạo kiên cường, đồng chí Hà Huy Tập còn là một nhà lý luận chính trị xuất sắc của Đảng. Đồng chí đã tham gia soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng, viết nhiều sách báo nhằm tuyên truyền, giáo dục và giác ngộ cách mạng cho quần chúng Nhân dân. Trong suốt quá trình hoạt động, đồng chí luôn giữ vững phẩm chất của một người cộng sản mẫu mực, giàu tình thương yêu giai cấp, gắn bó sâu sắc với Nhân dân và kiên định niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
Đồng chí Hà Huy Tập hy sinh khi mới 35 tuổi, độ tuổi đang tràn đầy sức lực và trí tuệ cống hiến cho cách mạng. Trước khi ra pháp trường, đồng chí đã để lại lời nói bất hủ: “Cách mạng muôn năm! Tôi chẳng có gì phải hối tiếc; nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động”. Lời nói ấy đã trở thành lời hiệu triệu, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau luôn đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng và của dân tộc lên trên hết, kiên định con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn.
* Hồng Vĩnh