PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC, SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY In trang
19/08/2026 05:56 CH

Tóm tắt: Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) từ khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, đồng hành, hỗ trợ, hoàn thiện cả về lý luận, chính sách, pháp luật, cơ chế để phát huy được vai trò động lực quan trọng trong nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tuy nhiên các thế lực thù địch đã dùng “phương pháp chiết trung”, sử dụng lý luận một cách máy móc, sử dụng thực tiễn thiếu lô-gic để xuyên tạc về KTTN, tạo ra sự đối lập của KTTN với định hướng XHCN, xuyên tạc vai trò của KTTN nhằm mục đích gây bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

Từ khoá: quan điểm xuyên tạc, sai trái; kinh tế tư nhân; thời kỳ quá độ; xã hội chủ nghĩa

1.Đặt vấn đề

Một trong những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đổi mới là phát triển KTTT định hướng XHCN từ năm 1986 cho đến nay. Đây là sự phát triển lý luận và được thực tiễn kiểm chứng, cho thấy tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong việc “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Phát triển KTTT định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều cách thức tổ chức sản xuất, trong đó KTTN được thừa nhận, trở thành “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Đây không phải là sự đối lập với CNXH, mà là một bộ phận tất yếu cấu thành “phương thức để xây dựng CNXH” vì “KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Tuy nhiên các thế lực thù địch đã sử dụng “phương pháp chiết trung” đối với những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển KTTN để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, cho rằng Việt Nam đã xa rời CNXH, Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, chỉ là không dám thừa nhận, không chịu phá bỏ kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời để phù hợp với cơ sở hạ tầng là KTTT. Cùng với đó chúng sử dụng mạng xã hội, những hình ảnh, thông tin thiếu thiện chí, thất thiệt để tấn công vào nhiều doanh nghiệp tư nhân nhằm làm giảm uy tín, sức cạnh tranh của sản phẩm với mục đích sâu xa là làm suy yếu năng lực sản xuất nội tại của nền kinh tế đất nước, từ đó tạo ra những bất ổn về mặt chính trị-xã hội. Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đưa ra những quan điểm, giải pháp đấu tranh, phản biện dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.

2.Nhận diện những quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về KTTN và mối quan hệ giữa KTTN với CNXH ở Việt Nam hiện nay

Trước hết, các thế lực thù địch cho rằng KTTN là nòng cốt của KTTT, và KTTT thì hoàn toàn đối lập với CNXH. Kinh tế thị trường là “sản phẩm phát triển của chủ nghĩa tư bản”, đối lập hoàn toàn với CNXH, nói cách khác là không tồn tại “KTTT định hướng XHCN”. Việc Việt Nam phát triển KTTT định hướng XHCN thực chất là đã thừa nhận chủ nghĩa tư bản về mặt kinh tế, nhưng không dám thừa nhận (thay đổi) kiến trúc thượng tầng về mặt chính trị, xã hội, thừa nhận đa nguyên, đa đảng. Thậm chí một số phần tử suy thoái về tư tưởng chính trị, thoái hoá, biến chất đã sử dụng chiêu trò cắt khúc, áp dụng “phương pháp chiết trung”, sử dụng một số câu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin để “nguỵ tạo” cho những xuyên tạc. Như khi nói về nền sản xuất XHCN, V.Lê-nin đã nói: “muốn tổ chức nền đại sản xuất mà không có các chủ xưởng thì trước hết phải thủ tiêu cái tổ chức hàng hoá của nền kinh tế xã hội và thay thế tổ chức đó bằng một tổ chức tập thể, cộng sản chủ nghĩa, trong đó kẻ điều tiết sản xuất sẽ không phải là thị trường như ngày nay nữa mà chính là bản thân những người sản xuất, chính là bản thân cộng đồng những người công nhân”(1). Ở đây chúng đã “nguỵ tạo” để cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định kinh tế XHCN là phải thủ tiêu sản xuất hàng hoá. Và vì thế một khi đã thừa nhận KTTT, KTTN có nghĩa là đã thừa nhận “cơ sở hạ tầng” tư bản chủ nghĩa thì việc xác lập “kiến trúc thượng tầng” tư bản chủ nghĩa (về chính trị, xã hội) là hoàn toàn đúng với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thứ hai, bên cạnh việc xuyên tạc cho rằng không có kiểu “KTTT định hướng XHCN”, các thế lực thù địch lại cho rằng nếu Việt Nam đã “thừa nhận” KTTT thì điều đó cũng có nghĩa là Việt Nam đã “từ bỏ” định hướng XHCN; chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng KTTT là bóc lột, thì Việt Nam đã thừa nhận sự bóc lột, tạo điều kiện cho bóc lột, cho phép đảng viên làm KTTN, tạo ra bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn. Chúng cũng triệt để lợi dụng những báo cáo tổng kết của Đảng để quy chụp như: “Sự phân hoá giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. Một số vấn đề của xã hội số chậm được nhận diện và thiếu cơ chế xử lý kịp thời”(2), “Mức sống và các chỉ tiêu phát triển giữa các nhóm dân cư, các địa bàn; giữa các nhóm người nghèo và không nghèo có sự khác biệt lớn, còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết”(3). Từ đó chúng quy chụp rằng Việt Nam đã thừa nhận sự bất bình đẳng xã hội như một tồn tại khách quan, điều đó cũng có nghĩa là đã từ bỏ định hướng XHCN vốn phấn đấu vì “dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ ba, KTTN là đối lập với kinh tế nhà nước (KTNN) - một đặc trưng kinh tế của CNXH. Khi thừa nhận KTTN là “động lực quan trọng nhất” có nghĩa là không còn coi trọng vị trí, vai trò của KTNN, hay nói cách khác là đã từ bỏ thành phần kinh tế cơ bản của CNXH. Chúng cho rằng Hiến pháp 2013 và Nghị quyết 79 khẳng định, ghi nhận vai trò “chủ đạo” của KTNN là đối lập với Nghị quyết 68 về KTTN. Chúng lập luận rằng nếu Đảng đã khẳng định KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” thì sẽ hoàn toàn mâu thuẫn với “vai trò chủ đạo” của KTNN. Và quy kết rằng Đảng đã không “nhất quán”, “tự mâu thuẫn”, “lúng túng về đường lối kinh tế”, chứng tỏ “mô hình KTTT định hướng XHCN” là không thực tế, mơ hồ.

Thứ tư, cho rằng một số doanh nghiệp lớn thuộc KTTN thực chất là sân sau, là nơi tích tụ tư bản của một bộ phận giới tinh hoa, có quan hệ mật thiết với một nhóm lợi ích trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền ở địa phương hiện nay. Đây là một âm mưu rất thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch. Chúng cho rằng trong khi hàng loạt doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, “bết bát” thì hàng loạt doanh nghiệp tư nhân lại “ăn lên làm ra”, trở thành những tập đoàn lớn, thâu tóm nhiều dự án lớn, quan trọng. Lý do đứng đằng sau chính là việc các doanh nghiệp khối KTTN thực chất là “sân sau”, là nơi một số quan chức, cán bộ có chức có quyền ở địa phương giữ “cổ phần chi phối”, có “lợi ích nhóm”, nhờ đó các doanh nghiệp này luôn được “ưu ái” để trúng thầu hoặc được chấp nhận những dự án đầu tư lớn. Lấy dẫn chứng từ những vụ án hình sự như Thuận An, Phúc Sơn, Công Minh, AIC, Vũ “nhôm” (Phan Văn Anh Vũ), Tất Thành Cang…nhằm lôi kéo sự quan tâm, đồng thuận của người dân. Thậm chí trên mạng xã hội, chúng lập lờ đưa tin rằng “cà phê doanh nhân” mà lãnh đạo một số đơn vị, địa phương tham dự cuối tuần thực chất chỉ là cuộc họp nội bộ của lãnh đạo, cổ đông chi phối, lợi ích nhóm đối với các “doanh nghiệp sân sau” của mình.

Thứ năm, KTTN đang thao túng chính sách, pháp luật để tối đa hoá lợi nhuận, làm tha hoá đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, góp phần tạo ra một tầng lớp xã hội đứng lên trên lợi ích của đất nước, của nhân dân. Bằng việc nêu ra một số chính sách, pháp luật còn bất cập, chưa hợp lý, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng mạng xã hội, các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, thậm chí cả “giảng đường” để mập mờ xuyên tạc rằng những chính sách, pháp luật ấy có bàn tay chi phối, thao túng của KTTN nhằm thâu tóm, chi phối vì “lợi ích nhóm”.

Thứ sáu, xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước “phân biệt đối xử” hoặc “kìm hãm” KTTN. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 28/02/2025 về việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước là công ty cổ phần từ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp về Bộ Tài chính, hàng loạt trang đã đưa tin xuyên tạc, quy kết: “nhà nước vừa đá bóng vừa thổi còi”, Bộ Tài chính vừa quản lý nhà nước vừa quản lý doanh nghiệp nhà nước như vậy sẽ có sự phân biệt đối xử với doanh nghiệp tư nhân, có sự “ưu ái” với doanh nghiệp nhà nước, thêu dệt là “Việt Nam phi thị trường”, thậm chí là kêu gọi WTO, các đối tác thương mại lớn trừng phạt đối với Việt Nam. Lợi dụng việc cơ quan chức năng xử lý những doanh nghiệp tư nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, chúng đưa những thông tin mập mờ, thất thiệt để xuyên tạc, vu khống như: thực chất đó là triệt hạ KTTN, là xử lý các doanh nghiệp đối thủ của KTNN và doanh nghiệp tư nhân vốn là “sân sau”, “lợi ích nhóm” của một bộ phận cán bộ có chức có quyền. Bên cạnh đó chúng còn đưa những thông tin xuyên tạc rằng Việt Nam xây dựng CNXH (chế độ mà KTNN và kinh tế tập thể là nòng cốt, chủ đạo) thì đến một giai đoạn nào đó của thời kỳ quá độ Nhà nước sẽ “quốc hữu hoá” toàn bộ KTTN như đã làm trong giai đoạn 1975-1978 ở miền Nam. Điều nguy hiểm là nhiều tin dạng này được tạo ra từ máy chủ ở nước ngoài nên cơ quan chức năng rất khó để xử lý, khiến cho không ít người dân, thậm chí có cả cán bộ, đảng viên dao động, nghe theo, có những bình luận mơ hồ, sai trái trên mạng xã hội, thậm chí len lỏi vào tận giảng đường đại học.

Thứ bảy, KTTN hình thành lên các tập đoàn kinh tế lớn, có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nước ngoài, thực hiện IPO (Initial Public Offering - chào bán lần đầu ra công chúng) tạo ra các khoản nợ nước ngoài khổng lồ rồi từ đó để nước ngoài thông qua các tập đoàn KTTN thao đúng thị trường, nền kinh tế, thậm chí cả chính trị ở trong nước. Sự tồn tại, phát triển của các doanh nghiệp ấy khiến cho kinh tế đất nước bị lệ thuộc vào nước ngoài. Như vậy “độc lập, tự chủ chiến lược” về thực chất chỉ còn là cái vỏ bọc.

Thứ tám, xuyên tạc Việt Nam đang thúc đẩy phát triển KTTN nhưng không quan tâm đến lợi ích của người lao động, người tiêu dùng, lợi ích quốc gia dẫn đến hàng loạt hàng giả, hàng kém chất lượng, thực phẩm bẩn…Nghĩa là không còn theo đuổi mục tiêu “của dân, do dân, vì dân”. Bên cạnh đó, chúng sử dụng mạng xã hội đưa những hình ảnh, thông tin thất thiệt, thiếu thiện chí, xuyên tạc, bịa đặt hòng làm giảm uy tín của nhiều doanh nghiệp tư nhân (ở cả trong nước và nước ngoài). Mục đích của chúng là để Việt Nam không có được những doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, có những sản phẩm cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, làm giảm sức sản xuất, cạnh tranh của nền kinh tế đất nước, khiến kinh tế khó khăn từ đó tạo ra những bất ổn về chính trị-xã hội. Có thể thấy các trang như “Ước mơ Việt Tân”, “Chân trời mới Média”, “Vinh danh cờ vàng”, “ Nhóm anh em chống bạo quyền CS”, “Diễn đàn người Việt Nam”, “Hội phòng chống tham nhũng”, “Bình luận về kinh tế, chính trị, xã hội”, “Nhật ký yêu nước”, “Quyết tâm làm trong sạch đội ngũ”, “Nguyễn Văn Đài”, “Tinh thần Trần Văn Bá”, “Việt Tin”… 

Thứ chín, không chỉ dừng lại ở lý luận bằng “phương pháp chiết trung”, kiểu mập mờ, cắt khúc các quan điểm, lý luận Mác-Lênin, chúng còn sử dụng thực tiễn kinh tế-xã hội đất nước qua các giai đoạn lịch sử để xuyên tạc. Chúng tập trung sử dụng những số liệu, hình ảnh về kinh tế-xã hội miền Nam trước 1975, đặc biệt là ở Sài Gòn, nơi được tô hồng là “hòn ngọc Viễn Đông” với tình hình kinh tế-xã hội trong giai đoạn trước đổi mới để nguỵ tạo cho một luận điểm rất nguy hiểm là “kinh tế miền Nam theo chế độ tư bản đã có cuộc sống sung túc, đầy đủ hơn rất nhiều so với mô hình kinh tế-xã hội XHCN của miền Bắc và trong giai đoạn đất nước sau thống nhất cho đến 1986 và đi đến kết luận: “mô hình kinh tế XHCN ở Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm là không phù hợp” là “nguyên nhân” dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải “đổi mới”, thừa nhận KTTT, phát triển KTTN, thực chất là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Trên không gian mạng, hàng loạt những trang của các thế lực thù địch, phản động, thoái hoá, biến chất, xét lại đưa thông tin dạng này. Điều nguy hiểm là có những người đã trải qua những giai đoạn đất nước khó khăn bởi bao vây cấm vận, chiến tranh, thiên tai hoành hành thời điểm ấy…đã “thừa nhận” những luận điểm trên và có những bình luận rất thiếu thiện chí, quy chụp, đánh giá phiến diện, sai lệch nguyên nhân và tình hình đất nước giai đoạn đó.

2.Cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta khẳng định KTTN là “động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” và không đối lập với CNXH, với con đường đi lên CNXH

Cơ sở lý luận: theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai bộ phận cấu thành của phương thức sản xuất, tồn tại biện chứng và quyết định sự phát triển xã hội. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Việt Nam quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa vì vậy sự tồn tại nền kinh tế KTTT định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh, nhiều hình thức phân phối là một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. C.Mác chỉ rõ rằng “quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”(4), đồng thời C.Mác cũng nhấn mạnh vai trò thúc đẩy của cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, coi đó là “động lực mạnh mẽ của sản xuất tư bản chủ nghĩa”(5). Như vậy, có thể thấy C.Mác mặc dù phê phán chủ nghĩa tư bản nhưng vẫn thẳng thắn thừa nhận yếu tố tiến bộ của KTTN trong phát triển lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng, sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, do sự phát triển của chính lực lượng sản xuất. Trong lòng xã hội cũ, các yếu tố của hình thái kinh tế - xã hội mới đã hình thành ngay từ khi lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời đang thống trị. Các ông cũng đã khẳng định rằng: khi quan hệ sản xuất cũ còn tạo dư địa cho lực lượng sản xuất phát triển thì nó không bị mất đi. Điều này cũng có nghĩa là chủ nghĩa Mác-Lênin đã thừa nhận (một cách gián tiếp) rằng trong một hình thái kinh tế-xã hội cụ thể nào đó bao giờ cũng đồng thời tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Tựu chung lại thì đó là: (1) thành phần kinh tế đại biểu cho phương thức sản xuất đang thống trị; (2) thành phần kinh tế thuộc phương thức sản xuất cũ đang được phương thức sản xuất thống trị cải tạo dần dần; (3) thành phần kinh tế đại biểu cho phương thức sản xuất thống trị mới (tương lai) sẽ thay thế phương thức sản xuất hiện hành, nhưng còn ở hình thái manh nha. Điều đó có nghĩa là chủ nghĩa Mác-Lênin đã luôn thừa nhận sự tồn tại tất yếu khách quan của KTTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH. V.Lênin đã từng nhấn mạnh “Chúng ta phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước như một nấc thang quá độ cần thiết để đi lên CNXH”(6). Luận điểm trên cho thấy V.Lênin đã thừa nhận sự tồn tại tất yếu khách quan của khối kinh tế tư bản tư nhân, tạo mối quan hệ kinh tế tư bản tư nhân với tư bản nhà nước và đây chính là bước tiến chiến lược nhằm tận dụng ưu điểm của thị trường để củng cố chế độ mới và từng bước tiến lên CNXH. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã khẳng định: “đa sở hữu, đa thành phần kinh tế; các khu vực kinh tế tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tạo dựng hệ thống thị trường đồng bộ, hiện đại phù hợp với yêu cầu của thực tiễn”(7). Mặt khác, lịch sử phát triển của KTTT cho thấy từ thời cổ đại đã có mầm mống sơ khai từ sản xuất hàng hoá giản đơn và phát triển cho đến KTTT hiện đại ngày nay. Như vậy KTTT có lịch sử phát triển liên tục, là thành tựu của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Đó là những cơ sở lý luận chắc chắn để khẳng định phát triển KTTN không mâu thuẫn với định hướng XHCN, mà là một tất yếu khách quan để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Cơ sở thực tiễn:

Thứ nhất, về mô hình kinh tế-xã hội trước đổi mới: phải thẳng thắn thừa nhận đây là mô hình tất yếu, và trong thực tế đã góp phần quyết định để hoàn thành sứ mệnh lịch sử là đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khuyết điểm là ở chỗ chúng ta đã duy trì mô hình ấy quá lâu, ở vào điều kiện, hoàn cảnh đã thay đổi, đòi hỏi của thực tiễn phải thay đổi mô hình ấy cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mặt khác, do chủ quan, duy ý chí, chúng ta đã xây dựng quan hệ sản xuất vượt trước quá xa so với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì thế “đổi mới là tất yếu khách quan”.

Thứ hai, luận điểm cho rằng KTTN đang là nòng cốt, là động lực quan trọng nhất, là chủ đạo chứ không phải KTNN. Ở đây cần nhấn mạnh rằng, vai trò “chủ đạo” không phải là chiếm tỷ lệ cao nhất trong GDP, sử dụng lực lượng lao động nhiều nhất, đóng góp ngân sách nhiều nhất mà là ở chỗ nắm giữ những ngành, lĩnh vực “then chốt” có vai trò dẫn dắt nền kinh tế, điều tiết sản xuất và ứng phó với khủng hoảng. “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền KTTT định hướng XHCN, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh”(8) và thực tế cho thấy “kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế”(8). Các cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998, khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2009, khủng hoảng nợ công Châu Âu 2010-2012, suy thoái kinh tế thế giới do hậu quả của dịch bệnh covid-19, khủng hoảng năng lượng 2022 và suy thoái kinh tế thế giới 2024-2026 và mới đây là khủng hoảng dầu mỏ do cuộc chiến Mỹ, Israel với Iran đã cho thấy vai trò của KTNN trong việc ổn định vĩ mô, điều tiết nền kinh tế ứng phó với khủng hoảng. Như vậy, thực tiễn kinh tế Việt Nam đã chứng minh được vai trò “chủ đạo” của KTNN và hoàn toàn không mâu thuẫn với vai trò “động lực quan trọng nhất” của KTTN. Giai đoạn 2015-2025 kinh tế Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong khi hầu hết các nền kinh tế đều có mức tăng trưởng thấp, thậm chí là tăng trưởng âm, suy thoái, khủng hoảng. Giai đoạn 2015-2020 đạt 6,0%/năm[1], giai đoạn 2021-2025 đạt trung bình 6,2%/năm dù phải hứng chịu hậu quả nặng nề bởi dịch bệnh covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu, riêng năm 2025 đạt 8,02%, GDP 514 tỷ USD (hạng 32 thế giới), thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD; lạm phát được kiểm soát tốt, dao động từ 1,84%-3,63%/năm[2]; thu hút FDI đạt 27,62 tỷ USD,  xuất - nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 930 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền thương mại lớn nhất thế giới.

Thứ ba, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, cần phải tập trung phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật, do đó việc phát huy vai trò của KTTN là cần thiết. Bởi lẽ, khu vực tư nhân có nguồn lực xã hội rất dồi dào về tích luỹ tư bản, tài chính, kinh nghiệm quản lý, khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thích ứng nhanh, hình thành nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh mới. “Trong nền KTTT định hướng XHCN, KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, KTTN giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”(9).

Thứ tư, phát triển KTTN không đồng nghĩa với thừa nhận, cổ vũ cho bóc lột. Thực tế phát triển KTTN đã tạo việc làm, thu nhập ngày càng tăng cho người lao động, đi đôi với đó là chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp nhằm bảo đảm chế độ an sinh bền vững cho người lao động. Đảng, Nhà nước cũng tuyên truyền, hỗ trợ để khối KTTN quan tâm nhiều hơn đến các chế độ phúc lợi doanh nghiệp cho người lao động như hỗ trợ đào tạo nâng cao tay nghề, nhà ở xã hội cho công nhân, hỗ trợ tiền thuê nhà, tiền ăn giữa ca, quà tặng dịp lễ, tết…Cùng với đó, việc KTTN có đóng góp ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước là nguồn lực tài chính quan trọng để Nhà nước thực hiện“phân phối lại” - thông qua phúc lợi xã hội nhằm bảo đảm “tiến bộ và công bằng xã hội”. Đây chính là định hướng XHCN khi phát triển KTTN.

Thứ năm, về hệ thống pháp luật, chính sách: Việt Nam đã xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ về kinh doanh, không phân biệt đối xử, tạo cơ chế, chính sách bình đẳng để các thành phần kinh tế cùng kinh doanh lành mạnh, đúng pháp luật. Công tác quản lý nhà nước về kinh tế ngày càng công khai, minh bạch, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo nhằm tạo dựng thị trường lành mạnh cho tất cả các thành phần kinh tế cùng phát triển.

3.Giải pháp để phản biện các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về KTTN và mối quan hệ giữa KTTN với định hướng XHCN

Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở lý luận, chính trị về KTTN, vai trò và mối quan hệ giữa KTTN với định hướng XHCN.

Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”. Điều này có nghĩa là mục tiêu của CNXH: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là không thay đổi nhưng cách thức thực hiện có sự sáng tạo, tư duy phát triển không ngừng để đi đến mục tiêu đó và “Nội dung tổng quát của đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN được khẳng định là: Phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối; phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường…”(10). Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện về tính XHCN của KTTT Việt Nam “có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”, đó là: “Một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của KTTT vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH”(11). Như vậy lý luận về KTTT định hướng XHCN Việt Nam ghi nhận sự tồn tại tất yếu khách quan của KTTN. Vấn đề nữa ở đây là lý luận về phân phối, Văn kiện Đại hội X “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội(12). Như vậy KTTN vẫn đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội thông qua việc phân phối lại bởi phúc lợi xã hội.

Thứ hai, đẩy mạnh truyền thông hiệu quả. Ngày nay thông tin đã trở thành một phần của lực lượng sản xuất, thậm chí kiến tạo phát triển và châm ngòi cho khủng hoảng. Vì vậy công tác tuyền thông về phát triển KTTT định hướng XHCN phải được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ trên nhiều kênh, nhất là nền tảng mạng xã hội để nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, cộng đồng thế giới nhận thức được một luận điểm đặc biệt quan trọng là “KTTT định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dựng là “một kiểu KTTT mới trong lịch sử phát triển của KTTT”(13) và “Nhà nước kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ KTTN phát triển nhanh, bền vững, không can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trái với nguyên tắc thị trường; xây dựng mối quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp cởi mở, thân thiện, đồng hành, liêm chính phục vụ, kiến tạo phát triển”(14).

“Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức và hành động, khơi dậy tinh thần kinh doanh, khởi nghiệp, sự tự tin, tự cường, tự hào dân tộc của mọi người dân để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ KTTN. Các cơ quan truyền thông, báo chí cần nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền, bảo đảm khách quan, trung thực, đầy đủ, cổ vũ, lan toả những mô hình tốt, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, khích lệ tinh thần kinh doanh trong toàn xã hội”(15). Tăng cường nâng cao lý luận, nhận thức cho đội ngũ giảng viên các cơ sở đào tạo (kể cả cơ sở đào tạo có yếu tố nước ngoài). Cùng với đó là kịp thời xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, đưa thông tin sai lệch, không chính xác, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, doanh nhân, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Tăng cường công tác thông tin kinh tế đối ngoại để các đối tác thương mại công nhận Việt Nam là nền KTTT đầy đủ, đặc biệt là Hoa Kỳ, EU[3]. Điều này là đặc biệt quan trọng để các doanh nghiệp Việt Nam được đối xử bình đẳng trên thị trường thế giới, không bị “áp đặt” thuế chống bán phá giá vô lý, đồng thời nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế, chính sách để thúc đẩy KTTN và kinh tế hộ phát triển. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về KTTN, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV tiếp tục có những ghi nhận, đánh giá, chính sách đối với KTTN là cơ sở chính trị để Nhà nước hoàn thiện pháp luật, chính sách đối với thành phần kinh tế đặc biệt quan trọng này. Cần nhận thức thống nhất trong xây dựng chính sách, pháp luật về kinh tế là: “trừ những lĩnh vực không thể giao cho tư nhân như trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; lĩnh vực mà tư nhân không muốn làm do lợi nhuận thấp; lĩnh vực cần nguồn vốn đặc biệt lớn mà tư nhân không thể đảm bảo thì KTNN phải làm, còn lại cho phép KTTN tham gia”. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai, quyền sở hữu tài sản, sở hữu trí tuệ, điều kiện và thủ tục kinh doanh, pháp luật về lao động và an sinh xã hội…Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách về thuế, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, vốn ưu đãi, phát triển nguồn nhân lực, thông tin đối ngoại để tạo động lực cho các thành phần kinh tế.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế: phân định rõ ràng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý doanh nghiệp. Chuyển đổi số toàn diện trong quản lý nhà nước về kinh tế để minh bạch hoá thị trường. Tuyệt đối tôn trọng các quy luật thị trường, không can thiệp vào thị trường bằng những biện pháp “phi thị trường”. Tăng cường quản lý, lành mạnh hoá thị trường, kiểm soát chặt chẽ cửa khẩu, chống buôn lậu, chống hàng giả, hàng nhái, xử lý cạnh tranh không lành mạnh để bảo vệ sản xuất trong nước. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát nhưng không gây khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm, đúng pháp luật đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh để các thành phần kinh tế an tâm đầu tư sản xuất, kinh doanh lâu dài.

Kết luận: phát triển KTTN là một chủ trương đúng của Đảng, Nhà nước ta, phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và không mâu thuẫn với CNXH, đã được thực tiễn 40 năm đổi mới kiểm nghiệm. Những quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch nhằm vào KTTN thực chất là để phủ nhận định hướng XHCN của nền KTTT ở nước ta hiện nay, đưa ra yêu sách đòi thay đổi kiến trúc thượng tầng, đa nguyên, đa đảng. Mặt khác xuyên tạc, kích động để gây hoài nghi, làm giảm sức cạnh tranh của chính KTTN, tạo mâu thuẫn xã hội giữa KTTN và KTNN để làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế, từ đó tạo ra những bất ổn về chính trị-xã hội. Nhận diện được những âm mưu, thủ đoạn và có cơ sở lý luận, thực tiễn chắc chắn, khoa học là cách thức hữu hiệu để phản bác những luận điểm sai trái, thù địch, để KTTN đồng hành cùng CNXH, thực sự là “một động lực quan trọng nhất” để phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

TS.Nguyễn Văn Hợi

(1) V.Lênin, Toàn tập, Tập 1, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1978, tr 311

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, tr.12

(3) (7) (10) (11) (13) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam, tr.56, tr.20, tr.21, tr.21, tr.21

(4) C. Mác - Ph. Ăngghen, 1993, tr.13

(5) C. Mác - Ph. Ăngghen, 2002, tr.23

(6) V.I. Lênin, “Về thuế lương thực”, 1921 và các bài viết trong thời kỳ Chính sách kinh tế mới – NEP

(8) Bộ Chính trị Khoá XIII, Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước

(9) (14) (15) Bộ Chính trị Khoá XIII, Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, tr.77-78

 

 

 

[1] Năm 2016-6,21%, 2017-6,81%, 2018-7,08%, 2019-7,02%, 2020-2,91%

[2] Năm 2021-1.84%, 2022-3.15%, 2023-3.25%, 2024-3.63%, 2025-3.31%

[3] Đến tháng 8/2024 có 72 nước công nhận Việt Nam có nền KTTT đầy đủ

Lượt xem: 8
Văn bản mới
  • 2471-CV/TU 17/08/2026 về việc triển khai chính thức phần mềm Phòng họp không giấy
  • 1030-CV/BTGDVTU 12/08/2026 về việc triển khai, hướng dẫn cán bộ, đảng viên thực hiện việc cài đặt ...
  • 13185/UBND-NC 10/08/2026 V/v tổ chức Quốc tang đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ...
  • 39-HD/BTGDVTU 07/08/2026 Hướng dẫn triển khai nhiệm vụ công tác văn hóa, văn nghệ sáu tháng cuối ...
  • 2392-CV/BTGTW 06/08/2026 V/v đề nghị thông báo, triệu tập đại biểu, giảng viên, giáo viên tham dự ...
Liên kết website

Thống kê truy cập
  • 010668882
  •  Đang online: 261
  •  Trong tuần: 39.349
  •  Trong tháng: 285.849
  •  Trong năm: 3.221.923